THÔNG TIN VỀ ĐƯỜNG PHỐ TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TÂN GIANG

 

I. NGUYỄN CÔNG TRỨ

1. Vị trí con đường

Bắt đầu từ đoạn giao với đường Đặng Dung đến đoạn giao với Đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Công Trứ (Mậu Tuất 1778 - Mậu Ngọ 1858) là danh sĩ đời Tự Đức, lúc nhỏ có tên là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hải Văn, quê ở làng Uy Viễn, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình quan lại, cha làm Tham tán Nhung vụ, tước Đức Ngạn Hầu triều Lê - Trịnh. Năm 1819 ông đỗ Giải nguyên, năm 1820 được bổ làm Hành tẩu ở Quốc Sử quán, thăng dần lên Lang trung, Thị lang, Tham tri, sung chức Dinh điền sứ, Tổng đốc An Hải, nhiều lần làm tướng cầm quân dẹp thảo khấu bình định nội loạn, rồi bị cách chức, sau lại phục chức thăng Phủ doãn Thừa Thiên. Ông tính tình ngay thẳng, phóng khoáng, lại liêm khiết thương dân, hết mình vì đất nước, công lao không ai sánh được. Ông là người làm hết mực, chơi hết ga, đồng thời là một nhà văn hóa dân tộc. Về "cách chơi" ông có bài thơ nổi tiếng viết ở Huế: "Lênh đênh một chiếc thuyền lan Một cô gái Huế, một quan đại thần Ban ngày quan lớn như thần Ban đêm quan lớn tần mần như ma Ban ngày quan lớn như cha Ban đêm quan lớn rầy rà như con". Ông để lại khá nhiều thơ văn, nhiều bài hát nói theo chất liệu dân ca xứ Nghệ. Là người có công khẩn hoang lập ra hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn, tỉnh Thái Bình. Năm Thiệu Trị thứ ba, 1843, ông bị vu cáo nên bị cách tuột hết chức vụ, giáng xuống làm lính thú ở Quảng Ngãi. Ông đã từng nói: "Lúc làm đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào có nghĩa vụ đối với địa vị ấy". Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ suy tôn ông làm Khai canh, Thành hoàng làng. Tháng 6 năm Duy Tân thứ tám (1914) ông được truy phong tước Thọ Tường Tử.

II. PHAN ĐÌNH PHÙNG

1. Vị trí con đường

Đường Phan Đình Phùng bắt đầu từ ngã 3 đường Hà Huy Tập - đường Trần Phú (QL 1A) đến đoạn giao với đường Nguyễn Trung Thiên

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Phan Đình Phùng (Đinh Mùi 1844 - ất Mùi 1895), người anh hùng chống Pháp, hiệu Châu Phong, quê ở làng Đông Thái, nay là xã Đức Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình Nho học, cha là Phó bảng, từng làm Phủ doãn Thừa Thiên, sau ra Bắc làm Tán lý Quân vụ. Phan Đình Phùng đỗ Cử nhân năm 1876, năm 1877 thi Đình đỗ Đình nguyên Tiến sĩ, được cử giữ chức Ngự sử Đô sát viện làm việc tại Kinh đô. Ông tính cương trực thẳng thắn, thông minh, liêm khiết không xu nịnh bất cứ ai, dù đó là vua. Ông cực lực phản đối Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường chuyên quyền tự phế vua Dục Đức, nên 1883, ông bị bắt giam rồi đuổi thẳng về làng. Nhưng khi Kinh đô thất thủ, vua Hàm Nghi ra Tân Sở xuống chiếu Cần Vương, ông đã sát cánh cùng Tôn Thất Thuyết tập hợp nghĩa binh kháng Pháp. Ông lập căn cứ ở vùng rừng núi Hương Sơn, Hà Tĩnh quyết đánh Pháp tới cùng. Ông là người có học vấn cao, lại hay tin dùng tướng trẻ. Cao Thắng là một viên tướng như vậy được ông giao trọng trách mở xưởng chế tạo vũ khí để đánh giặc, nhờ vậy mà nghĩa quân của ông đánh thắng nhiều trận làm cho quân thù tổn thất khốn đốn. Chúng dùng chiêu bài cử Hoàng Cao Khải gửi thư chiêu dụ, ông từ chối; chúng cử Nguyễn Thân và đám tay sai đem quân ra sức đàn áp, bắt thân nhân, quật mồ mả tổ tiên ông, song ông vẫn không sờn lòng mà còn chiến đấu oanh liệt hơn trước. Sau gần 10 năm kháng chiến đánh Pháp, Phan Đình Phùng lâm bệnh, mất tại chiến khu núi Quạt, nhằm ngày 28/12/1895, hưởng dương 51 tuổi (có sách ghi ông sinh năm 1847, mất năm 1895, hưởng dương 48 tuổi). Phan Đình Phùng để lại một số bài thơ: Khóc Cao Thắng, Lâm chung thời tác, Thắng trận hậu cảm tác, Điếu Lê Ninh và Viết sử địa dư vựng cách, lúc sắp mất ông có bài "Thuật hoài" tỏ rõ chí mình, qua bản dịch của Nguyễn Q. Thắng: "Nhung trường vâng mạng đã mười đông, Việc võ lôi thôi vẫn chẳng xong! Dân đói vang trời kêu ổ nhạn, Quân gian dậy đất rộn đàn ong. Chín trùng lận đận miền quan tái, Trăm họ phôi pha đám lửa nồng. Trách vọng càng to càng nặng nhọc, Tướng môn riêng hổ tiếng anh hùng". Được tin ông mất, nhiều văn thân Nghệ Tĩnh và sĩ phu khắp đất nước làm thơ, đối liễn thương tiếc kính viếng ông.

 

III. HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

1. Vị trí con đường

Đường Hải Thượng Lãn Ông bắt đầu từ ngã tư Quốc lộ 1A – Vụ Quang đến đoạn giao với đường Nguyễn Trung Thiên

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Hải Thượng Lãn Ông -  Hữu Trác (1720-1791). Sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tư (11-12-1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Nay là xã Hoàng Hữu Nam huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, ông sống nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) ở quê mẹ xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn và cũng qua đời ở đây vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) thọ 71 tuổi. Mộ ông nay cọ̀n nằm ở Khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc huyện Hương Sơn (cách Thị trấn Phố Châu - Hương Sơn 4 cây số).

Lê Hữu Trác là con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng. ọ̀ng họ của ông có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to. Cha Lê Hữu Trác đỗ đệ tam giáp tiến sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng thư.
Năm Kỷ Mùi (1739) Lê Hữu Trác 20 tuổi thấy cha qua đời, ông rời kinh thành về nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, thi vào tam trường, sau đó không thi nữa. Năm 1739 cũng là năm mở ra quy mô lớn của phong trào nông dân nổi dậy chống phong kiến, chỉ một năm sau (1740) nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh sát huyện ông. Chàng thư sinh trẻ tuổi Lê Hữu Trác đang mê mải đèn sách phải lánh đi nơi khác đọc sách. Có người thấy thế đă bảo ông "Binh lửa khắp nơi, con trai thời loạn há chịu già đời ở trong phòng sách mãi sao?" và khuyên ông nên theo nghề vợ. Từ đó ông vừa dùi mài kinh sử vừa nghiên cứu binh thư. Sau nhờ ẩn sĩ họ Vũ ở Đặng Xá dạy vũ thuật âm dương (phép bói toán độn số), ông "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tọ̀ng quân để thí nghiệm sức học của mì́nh" (Tựa "Tâm lĩnh"). Chiến tranh phong kiến đă gây đau thương chết chóc cho biết bao nhiêu gia đình làng xóm, nó không đem lại gì cho nhân dân, cho đất nước; đã làm cho Lê Hữu Trác chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên ông đã nhiều lần từ chối sự đề bạt của tướng nhà Trịnh. Ông nhận ra theo Lê hay Trịnh cũng là chí theo đuổi chiến tranh "cốt nhục tương tàn"; cái chí mạnh "xung Ngưu Đẩu" của ông cũng hóa "ngông cuồng" mà thôi. (Đọc bài thơ trong lời tựa bộ "Tâm lĩnh"). Cho nên năm 1746 khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới. Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào ḿnh, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông đọc sách thuốc "Phùng thị cẩm nang" hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, muốn đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho ḿnh mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.

Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu Lãn ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó. Giữa cảnh thiên nhiên tĩnh mịch của núi rừng Hương Sơn, sớm khuya mê mải đọc các sách thuốc: Y học nhập môn, Cảnh nhạc toàn thư, Nam dược thần hiệu (của Tuệ Tĩnh), Bảo sinh diệu toản yếu... thật là: Sá chi vinh nhục việc đời, Đem thân đạo nghĩa vào nơi lâm tuyền. (Bất can vinh nhục sự Bảo đao nhập cùng lâm. An bần - Y lý thâu nhàn). Hải Thượng Lãn ông muốn tì́m thầy, tìm bạn để học thêm nhưng nơi núi rừng hẻo lánh "trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp, chỉ một mình nói với mình, tự hỏi tự đáp mọ̀ mẫm tưởng tượng đủ thứ" (Lời tựa "Tâm lĩnh") để tìm ra chân lý. Sau ông nhờ một ông lang ở làng bên đi lại thân mật, giúp ông giải đáp những mắc mớ, vài ba năm sau ông đă chữa được một số bệnh thông thường trong gia đình và làng xóm.

Mùa thu năm Bính Tý (1754) Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm v́ì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông dã nổi ở vùng Hoan Châu (Nghệ An). Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông dã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Lãn ông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức - Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải thượng Lãn ông. Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782) Lãn ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đă 62 tuổi, sức cũng yếu lại là người chăm lo chữa bệnh cho trăm họ, nhất là ông đă quyết chí xa lánh công danh, theo đuổi nghiệp y đă mấy chục năm nên ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh với tâm trạng vừa lo lắng, vừa chán nản; măi sau nghĩ đến bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, mà ông "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc th́ì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" (Thượng kinh íy sự), nên ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách, phần "con cái trong nhà cũng hết sức van nài", ông tạm làm vui từ giă gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường. Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng Lãn ông thấy nếu nhận thưởng chịu ơn thì khó lòng rời kinh đô trở lại Hương Sơn được, nên ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài.
Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.  Thời gian ở kinh đô, Lãn ông muốn về thăm cố hương Hải Dương của mình, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Sau hơn 20 năm xa cách, được trở về mảnh đất "chôn nhau cắt rốn". Đang sống giữa quê hương, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Nhận được lệnh triệu, ông đành phải rời quê hương. Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được" (Thượng kinh kư sự). Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được, lại nóng lòng trở về Hương Sơn, Lãn ông đang tìm kế thoái lui, thì may có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh.Hải Thượng Lãn ông trở về Hương Sơn bằng đường thủy, nhưng sợ triều đình bắt trở lại ông phao tin đi đường bộ. Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như "chim sổ lồng, cá thoát lưới", lòng chỉ muốn "bay nhanh" về quê nhà. Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn. Gần một năm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công danh phú quý lôi kéo, nhưng ông "thung dung" ra đi lại "ngất ngưởng" trở về, lòng trong không hề đục, chí lớn không hề sờn.
Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" ghi lại tỉ mỉ chuyến đi kinh, tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khi bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh". Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.

      IV. ĐƯỜNG MAI THÚC LOAN

1. Vị trí con đường

Từ Ngã tư đường Phan Đình Phùng - Nguyễn Trung Thiên đến Cống Hậu Hà (Khối phố 9 Phường Thạch Quý)

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nǎm Nhâm Tuất (722) đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu nổ ra cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Mai Thúc Loan quê ở Mai Phụ, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Không ai còn nhớ nǎm sinh ngày mất của ông. Chỉ biết rằng, thuở nhỏ nhà Mai Thúc Loan nghèo lắm, mẹ phải đi làm mướn cho nhà giàu và kiếm củi nuôi con. Đã thế, cậu bé lại chịu tiếng xấu là con không cha(1) và nước da đen xạm xấu xí. Nhưng Mai Thúc Loan cũng sớm bộc lộ thiên tư thông minh, sáng ý kỳ lạ và có sức khoẻ tuyệt vời.
Lớn lên, Mai Thúc Loan là một chàng trai có sức khoẻ phi thường. Thúc Loan là đô vật lừng danh, từng ǎn giải cạn(2) ở nhiều nơi.
Mùa vải nǎm Nhâm Ngọ (722), Mai Thúc Loan cùng đoàn phu phải gánh vải đi nộp cống. Đoàn người gánh vải đầm đìa mồ hôi mà vẫn phải ê từng bước trên đường. Gần trưa, Mai Thúc Loan cho mọi người nghỉ chân ở bên rừng. Cái khát cháy cổ hành hạ đoàn phu. Một dân phu có tuổi bứt lấy một quả vải ǎn cho đỡ khát. Quả vải chưa kịp đưa lên miệng đã bị một tên lĩnh Đường đi áp tải vung cán mã tấu đánh vào đầu. Khi tên lính Đường lần nữa định đánh ông già, thì hắn đã bị đánh chết tươi. Sự việc xảy ra nhanh như chớp. Bọn giặc cậy có binh khí hò hét vung đao, kiếm xông vào Mai Thúc Loan.. Nhưng những người dân phu theo lệnh Mai Thúc Loan, đã rút đòn gánh chống lại. Đánh tan lũ giặc Đường trong một cơn phẫn nộ, Mai Thúc Loan lập tức thổi bùng khí thế vụ bạo động thành một cuộc dấy nghĩa.
Vị thủ lĩnh trẻ được tôn thành vị anh hùng, đã hiệu triệu trǎm họ hưởng ứng nghĩa lớn và chọn Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn làm cǎn cứ. Mai Thúc Loan đã phát hịch kể tội giặc Đường và kêu gọi người Việt đứng lên gìn giữ non sông. Mai Thúc Loan còn tìm cách liên kết với các thủ lĩnh và nhân dân các châu miền núi, với Champa để có thêm lực lượng chống quân Đường. Trước khi tiến đánh phủ đô hộ ngoài Giao Châu, Mai Thúc Loan được quân dân tôn phong lên ngôi hoàng đế lấy vương hiệu là Mai Hắc Đế (vua Đen họ Mai).
Nhưng lúc này nhà Đường rất mạnh, vua Đường kéo sang hơn 10 vạn quân đánh chiếm Vạn An. Không đương nổi đội quân xâm lược hung hãn, Mai Hắc Đế phải rút vào rừng, sau bị ốm rồi mất.

      V. ĐƯỜNG NGUYỄN TRUNG THIÊN

1. Vị trí con đường

Từ giao với đường Đặng Dung - Nguyễn Phan Chánh đến giao với Đường Nguyễn Du

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Trung Thiên tên thật là Trần Hữu Thiều sinh ngày 11-6-1906 tại làng Dương Xuân (nay thuộc xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Sinh trưởng trong vùng quê giàu truyền thống yêu nước nên đồng chí sớm giác ngộ ý thức cách mạng. Năm 21 tuổi (1927) Trần Hữu Thiều đã là một trong 7 hội viên Hội thanh niên ở Dương Xuân. Năm 1929, đồng chí trở thành một trong những đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng đầu tiên ở quê nhà; đồng chí được chỉ định làm ủy viên BCH Tổng Nông hội tỉnh Nghệ An.

Đầu tháng 1-1930, Kỳ bộ Đông Dương Cộng sản Đảng ở Trung Kỳ phái Nguyễn Trung Thiên vào công tác tại Hà Tĩnh. Lúc này, tuy gia cảnh khó khăn, mẹ già yếu, vợ lại sắp sinh con đầu lòng nhưng đồng chí vẫn hăng hái lên đường làm nhiệm vụ. Vào Hà Tĩnh, Nguyễn Trung Thiên đã dựa vào những thành viên tích cực, nòng cốt trong tổ chức Sinh hội trường Tiểu học Pháp – Việt thị xã Hà Tĩnh để thành lập chi bộ Đảng, làm hạt nhân mở rộng các tổ chức ra các phủ huyện trong tỉnh. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Nguyễn Trung Thiên đã phối hợp với các đồng chí trong nhóm Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ở Hà Tĩnh mở hội nghị thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh vào cuối tháng 3-1930. Hội nghị đã bầu BCH lâm thời do Nguyễn Trung Thiên làm Bí thư.

Là một người hoạt động cách mạng sôi nổi, nhiệt tình, Nguyễn Trung Thiên có uy tín cao đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Đồng chí luôn hòa mình vào quần chúng và có phương pháp tuyên truyền, giải thích đường lối cách mạng bằng lời lẽ giản dị, bình dân. Để dễ dàng đi lại hoạt động, đồng chí thường phải ngụy trang che mắt địch, khi thì mặc áo quần như nông dân, lúc bận áo dài lương làm thầy thuốc, có khi lại khoác âu phục làm thầy giáo... Chính quyền phong kiến, thực dân ở Nghệ An truy tìm “Tên cộng sản lợi hại Trần Hữu Thiều” mãi không ra tung tích, bèn giở thủ đoạn đê hèn là bắt giam mẹ già và người vợ mới sinh của đồng chí. Tuy trong lòng thương mẹ, nhớ vợ con da diết và căm phẫn tột độ kẻ thù hung hãn nhưng Nguyễn Trung Thiên vẫn bình tĩnh, sáng suốt chỉ đạo phong trào với một nghị lực phi thường. Đồng chí thường tâm sự với bạn bè cùng hoạt động: “Làm cách mạng là không sợ chết, sợ chết thì không làm được; giao việc gì cũng phải làm đến nơi đến chốn”.

Cuộc biểu tình lịch sử ngày 1-8-1930 của hơn 500 nông dân huyện Can Lộc cùng hàng loạt cuộc đấu tranh khác tại Hà Tĩnh nổ ra nhờ có sự lãnh đạo và tổ chức của Tỉnh ủy lâm thời Hà Tĩnh do Nguyễn Trung Thiên đứng đầu. Đồng chí đã có công lao đáng kể đối với cao trào cách mạng ở Hà Tĩnh từ những cuộc đấu tranh bước đầu. Thế nhưng, trong Đại hội đại biểu Đảng bộ Hà Tĩnh lần thứ nhất (9-1930), Nguyễn Trung Thiên đã đề cử đồng chí Nguyễn Thiếp (quê Phù Việt, Thạch Hà) làm Bí thư Tỉnh ủy còn mình xin được trực tiếp chỉ đạo phong trào đấu tranh ở huyện Can Lộc. Đề nghị của đồng chí được đại hội hoàn toàn nhất trí. Với cương vị là ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Nguyễn Trung Thiên đã cùng với BCH Đảng bộ dồn mọi sức lực vào công tác xây dựng Đảng về tư tưởng và tổ chức, làm hạt nhân lãnh đạo phong trào quần chúng. Đồng chí dành nhiều thời gian xuống trực tiếp chỉ đạo phong trào của cơ sở. Ngày 22-11-1930, trong khi đang làm nhiệm vụ ở Can Lộc, không may Nguyễn Trung Thiên sa vào lưới địch. Vào tù, mặc dù bị tra tấn dã man, đồng chí đã tỏ rõ khí phách anh hùng của con người xứ Nghệ, không khuất phục trước kẻ thù. Tấm gương kiên cường của đồng chí góp phần khích lệ anh chị em tù chính trị trong các nhà lao của bọn đế quốc và tay sai giữ vững khí tiết của người cộng sản.

Nguyễn Trung Thiên bị cầm tù nhưng vẫn làm cho kẻ thù ngày đêm lo lắng vì uy tín của đồng chí vẫn là niềm cổ vũ tinh thần cho quần chúng đấu tranh. Vì vậy, bọn giặc đã hèn hạ ngầm đưa đồng chí về xử bắn tại thôn Phù Minh (Can Lộc) vào ngày 11-2-1931. Đồng chí đã hy sinh ở tuổi 27 trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng bào. Mặc dù Nguyễn Trung Thiên và nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Tỉnh ủy bị tù đày, hy sinh nhưng những hạt giống cách mạng mà các anh đã dày công gieo xuống trên đất Hà Tĩnh vẫn phát triển rộng khắp từ đồng bằng ven biển đến trung du và miền núi. Từ cuối năm 1930, đầu năm 1931, khắp các phù huyện liên tiếp nổ ra các cuộc biểu tình với quy mô rộng khắp, thu hút hàng vạn người tham gia, làm nên một cao trào Xô- viết Nghệ Tĩnh. Nguyễn Trung Thiên đã anh dũng hy sinh trong cuộc đấu tranh oanh liệt của Đảng và nhân dân ta chống lại chế độ thực dân Pháp và phong kiến tay sai.

      VI. ĐƯỜNG TÂN BÌNH: từ đường Phan Đình Phùng đến đường Đặng Dung.

 

      VII. ĐƯỜNG NGUYỄN PHAN CHÁNH

1. Vị trí con đường

Từ Ngã 3 đường Nguyễn Trung Thiên - Đặng Dung đến Cống Đập Bợt – Phường Thạch Quý

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Phan Chánh là một danh họa trong nghệ thuật tranh lụaĐại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1964-1970) khóa III. Ông là người đầu tiên mang vinh quang về cho tranh lụa Việt Nam.

Nguyễn Phan Chánh sinh ngày 21 tháng 7 năm 1892 tại thôn Tiền Bạt, xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà nay là phường Tân Giang, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1922 ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm thuộc trường Quốc học Huế. Sau đó ở lại dạy học tại trường tiểu học Đông Ba Huế. Năm 1925, Nguyễn Phan Chánh là sinh viên khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng học với Lê PhổLê Văn ĐệMai Trung ThứCông Văn Trung, Georges Khánh (điêu khắc). Năm 1928, ông bắt đầu sáng tác các tranh sơn dầu: "Mẹ bầy cho con đan len", "Hai vợ chồng người nông dân trục lúa". và cũng năm nay ông bắt đầu học vẽ trên lụa Vân Nam và đã thành công. Ông tốt nghiệp năm 1930.

Năm 1931, Nguyễn Phan Chánh sáng tác tranh lụa "Chơi ô ăn quan" cùng một số họa phẩm khác như "Cô gái rửa rau", "Em bé cho chim ăn", "Lên đồng". Cũng năm này tại triển lãm Paris, Pháp một số tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh đã được Giám đốc Victor Tardieu mang về Pháp giới thiệu. Lần đầu tiên công chúng Pháp biết tranh lụa Việt Nam qua bút pháp Nguyễn Phan Chánh. Họa báo L'Illustration xuất bản ở Paris số Noel 1932 đã giới thiệu 4 bức tranh này của họa sĩ. Một số tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh đã được trưng bày ở Milan (Ý) năm 1934, ở San Francisco (Mỹ) năm 1937, ở Tokyo (Nhật Bản) năm 1940. Sau cuộc triển lãm ở Paris, họa sĩ Nguyễn Phan Chánh được coi là người đặt nền tảng cho tranh lụa hiện đại Việt Nam.

Năm 1933, ông tham gia bày tranh ở Địa ốc Ngân hàng Hà Nội và triểm lãm cá nhân lần thứ nhất ở Hà Nội. Năm 1935, ông tham gia triển lãm do Hội Chấn hưng Mỹ thuật và Kỹ nghệ (SADEAI) tổ chức lần thứ nhất tại Hà Nội. Năm 1938, ông tham gia triển lãm do SADEAI tổ chức lần thứ 2 tại Hà Nội, cũng năm nay ông tổ chức triểm lãm cá nhân lần thứ 2 tại Hà Nội với các tác phẩm tiêu biểu: "Đôi chim bồ câu", "Chăn trâu trong rừng", "Đi chợ", "Tắm cho trâu", "Đi lễ chùa". Năm 1939, tại quê ông đi vẽ ảnh "Đền làng", "Cầu ao", "Xóm Chài", "Hui thuyền", "Thuyền đánh cá", và cũng trong năm đấy Nguyễn Phan Chánh gửi sang Pháp những tranh cỡ lớn "Mùa đông đi cấy", "Chim sổ lồng", "Chị em đùa cá", "Công chúa hoa dâm bụt" cùng một số tác phẩm khác.

Sau Cách mạng tháng 8, Nguyễn Phan Chánh là Ủy viên Thường vụ Hội Văn hóa Cứu quốc của tỉnh. Trong thời gian này ông đã vẽ hình của rất nhiều các lãnh tụ và các chiến sĩ cộng sản: Nguyễn Ái QuốcLê Hồng PhongNguyễn Thị Minh KhaiTrần Phú. Trong chín năm tham gia kháng chiến, họa sĩ đã vẽ tranh tuyên truyền cổ động: "Em bé tẩm dầu", (1946), "Phá kho bom giặc" (1947), "Lội suối", (1949).

Năm 1955, Nguyễn Phan Chánh trở về Hà Nội, làm giảng viên hội họa Trường Đại học Mỹ thuật trong vài năm. Năm 1957, ông được bầu vào Ban Chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam khoá I. Năm 1962, ông là Đại biểu Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III.

Nguyễn Phan Chánh sáng tác tác phẩm đầu tiên về đề tài kháng chiến chống Mỹ, "Sau giờ trực chiến" (1967), tiếp đó là "Trăng tỏ" (1968), "Hạnh phúc" (lụa, 1968), "Chiều về tắm cho con" (1969), "Trăng lu" (lụa, 1970), "Tiên Dung và Chử Đồng Tử" (1973). Trong những ngày máy bay Mỹ ném bom Hà Nội, phòng tranh mừng họa sĩ 80 tuổi vẫn được mở tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, sau đó bày tại 10 Nguyễn Cảnh Chân, Hà Nội. Năm 1973, Nguyễn Phan Chánh sáng tác những tác phẩm cuối cùng về đề tài tắm: "Tiên Dung tắm", "Tiên Dung và Chử Đồng Tử", "Lội suối" và bức sau cùng là "Kiều tắm". Năm 1974, ông dự triển lãm tranh tượng về đề tài lực lượng vũ trang với tác phẩm "Sau giờ trực chiến" (lụa).

Tháng 8 và tháng 9 năm 1982, mừng thọ họa sĩ 90 tuổi, Bộ Văn hoá Việt Nam cùng Bộ Văn hoá Tiệp Khắc, Bộ Văn hoá Hungary tổ chức triển lãm 47 tác phẩm của các thời kỳ sáng tác của Nguyễn Phan Chánh tại PrahaBratislavaBudapestBucharestTháng 7 năm 1983, phòng tranh Nguyễn Phan Chánh được trưng bày tại Viện Bảo tàng Phương Đông ở Moskva.

Ông mất ngày 22 tháng 11 năm 1984 tại Hà Nội và được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.

Ông được coi là người chiết trung phương pháp tạo hình phương Tây và họa pháp tranh lụa phương Đông.

Trong cuộc Đấu xảo thuộc địa 1931 tại Paris những tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Phan Chánh đã gây được tiếng vang lớn. Ông được xem như một trong những họa sĩ tiêu biểu cho nền hội họa Đông Dương.

Với những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Phan Chánh được mời tham gia giảng dạy Mỹ thuật tại một số trường học, trong đó có Trường Bưởi và Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (1955). Ông đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ họa sĩ Việt Nam sau này.

Suốt cuộc đời làm nghệ thuật, Nguyễn Phan Chánh đã để lại một sự nghiệp đồ sộ với số lượng ước khoảng trên 170 tác phẩm. Ông là người đang giữ kỷ lục về số tác phẩm được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

 

      VIII. ĐƯỜNG NGUYỄN TẤT THÀNH

  1. Vị trí con đường

Từ Ngã tư Lý Tự Trọng - Nguyễn Công Trứ đến Giao với đường Nguyễn Thiếp

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19/5/1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; mất ngày 02/9/1969 tại Hà Nội.Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, Hồ Chí Minh sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.

Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.Ngày 03/6/1911, Nguyễn Tất Thành nhận thẻ nhân viên lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin với cái tên là Văn Ba. Hai ngày sau, 05/6/1911 con tàu rời cảng Nhà Rồng đến Pháp.

Từ năm 1912 - 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động. Qua thực tiễn, Hồ Chí Minh cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Hồ Chí Minh sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và tích cực hoạt động nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.

Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.

Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái  Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa. Tháng 4/1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc đã được đưa vào tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản tại Paris năm 1925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, góp phần thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng sản. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Tiếp đó tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các đại hội, Nguyễn Ái Quốc kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Tháng 11/1924, với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc làm việc trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” -  một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

Tháng 5/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), sau đó đi Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về châu Á.

Từ tháng 7/1928 đến tháng 11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do.

Từ năm 1934 đến năm 1938, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.

Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc.

Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.

Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ra mắt Chính phủ lâm thời do Người làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 01/01/1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Tháng 01/1946, Quốc hội khóa I đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 02/3/1946, Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 3/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ 11/1946 đến 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (từ 11/1946 đến 1947).

Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng.

Ngày 19/12/1946, người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (7/5/1954).

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Tháng 10/1956, tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ X (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, kiêm làm Tổng Bí thư của Đảng.

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 02/9/1969, tại Hà Nội.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc Đảng và nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng đất nước sau chiến tranh. Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc

Từ ngày 20/10 đến ngày 20/11/1987, trong khóa họp lần thứ 24 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.6.5, lấy năm 1990 nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, để tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

      IX. ĐƯỜNG NGUYỄN CHÍ THANH

  1. Vị trí con đường

Từ Giao với đường Nguyễn Tất Thành đến Giao với ngã tư đường 26/3 - Nguyễn Biểu

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh sinh ngày 01 tháng 01 năm 1914, quê làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông là con trai của Nguyễn Hán và Trần Thị Thiển, con thứ sáu trong gia đình có 11 người con (tính cả anh em cùng cha khác mẹ). Ông sinh trưởng trong một gia đình trung nông, thuở nhỏ cũng được học hành. Năm 14 tuổi, cha qua đời, gia đình nghèo, ông bỏ học, đi làm tá điền kiếm sống và nuôi gia đình.

Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh sinh ngày 01 tháng 01 năm 1914, quê làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông là con trai của Nguyễn Hán và Trần Thị Thiển, con thứ sáu trong gia đình có 11 người con (tính cả anh em cùng cha khác mẹ). Ông sinh trưởng trong một gia đình trung nông, thuở nhỏ cũng được học hành. Năm 14 tuổi, cha qua đời, gia đình nghèo, ông bỏ học, đi làm tá điền kiếm sống và nuôi gia đình.

Năm 1934, ông tham gia cách mạng trong phong trào Mặt trận Bình dân.

Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư chi bộ, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Từ năm 1938 đến năm 1943, ông nhiều lần bị Pháp bắt giam ở nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 09 tháng 03 năm 1945) mới ra tù. Sau khi ra tù và trở lại hoạt động, ông được bầu làm Bí thư Khu ủy khu IV và được cử đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào (8-1945). Trong Đại hội Đảng ở Tân Trào, ông được đặt bí danh là Nguyễn Chí Thanh, được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ có nhiệm vụ theo dõi và tổ chức giành chính quyền tại Trung Kỳ trong Cách mạng tháng 8.

Từ năm 1948 đến 1950, ông làm Bí thư Liên khu ủy IV. Cuối năm 1950, làm Chủ nhiệm Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), được cử vào Bộ Chính trị.

Năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tướng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Nguyễn Chí Thanh lại được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử vào Bộ chính trị và Ban Bí thư. Năm 1961, được giao nhiệm vụ Phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng. Trong chiến tranh Việt Nam, Trung ương Đảng điều ông trở lại quân đội. Nguyễn Chí Thanh còn là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1961, ông liên tục phát động các phong trào thi đua trong các hợp tác xã, giúp ổn định tình hình phát triển trong hoạt động sản xuất nông nghiệp miền Bắc.

Từ năm 1965 đến năm 1967, ông được phân công vào Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam. Thời gian này ông lấy bí danh là Sáu Vi. Khi viết báo, ông thường lấy bút danh là Trường Sơn.

Tại chiến trường, ông là người đề ra chiến thuật đánh áp sát của Quân Giải phóng miền Nam với phương châm "Nắm thắt lưng địch mà đánh", lối đánh này dùng phương châm cơ động áp sát nhằm hạn chế ưu thế hỏa lực của quân Mỹ.

Ông mất ngày 06 tháng 07 năm 1967 tại Hà Nội do một cơn nhồi máu cơ tim khi ra Hà Nội để báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình miền Nam.

 

      X. ĐƯỜNG NGUYỄN THIẾP

1. Vị trí con đường

Từ giao đường Phan Đình Phùng đến Qua Tỉnh uỷ đến Hào Thành 

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Thiếp có tên hiệu La Sơn phu tử. Ông là bậc thầy hiền sĩ thức thời, danh tiết thanh cao, biết người biết mình, không màng danh lợi. Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm Quý Mão (1723) ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Úc, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông còn có nhiều tên hiệu, tên tự khác như La Giang phu tử, Lam Hồng Dị Nhân, Khải Xuyên, Khải Chuyên, Nguyệt Úc, Lạp Phong cư sĩ, Hạnh Am, Hầu Lục niên, Lục niên Tiên sinh, Điên ẩn, Cuồng ẩn. Ông được nuôi dưỡng trong một gia đình văn hóa uyên thâm. Bên nội thuộc dòng dõi của Bảng nhãn Nguyễn Bật Lạng triều Lê Thần Tông. Bên ngoại là họ Nguyễn “Trường Lưu”, một dòng họ khoa bảng nổi tiếng “văn phái Hồng Sơn”. Nguyễn Thiếp nổi tiếng thiên tư sáng suốt, học rộng, hiểu sâu. Năm 20 tuổi, ông thi hương đậu giải nguyên. Năm 26 tuổi, ông thi hội đậu tam trường. Năm 30 tuổi, ông nhậm chức huấn đạo ở phủ Anh Sơn. Năm 40 tuổi, ông làm tri huyện Thanh Chương. Năm 46 tuổi, ông từ quan, về dựng nhà sống ẩn trên núi Thiên Nhẫn (Lục niên thành). Thời ấy, thế cuộc rối ren, vua Lê suy nhược, chúa Trịnh lộng quyền, Trịnh Giang giết vua, loạn thần chuyên chính, Lê Duy Mật dấy loạn, lời trung khó dùng, can gián mang họa. Nguyễn Thiếp thức thời, chán cảnh quan trường, không màng danh lợi nên đã từ quan về sống ẩn, đi chơi nay đây mai đó, xem xét địa thế. Ông trèo đèo, vượt suối vào sâu trên 99 ngọn núi Hồng Lĩnh thăm chùa Hương có từ đời Trần “Cổ Nguyệt Linh Quang” nơi nguồn thiêng của sông núi. Ông lên núi Chung khảo sát vượng khí của nước Nam và đã để lại cho hậu thế hai câu thơ lạ "Chung sơn tại đỉnh hình vương tự, Kế thế anh hùng vượng tử tôn" (Trên đỉnh núi Chung có hình chữ vương, con cháu nơi này tiếp bước nhau là những anh hùng). Ông đến am Bạch Vân thăm đền cũ Trạng Trình và có bài thơ “Quá Trình tuyền mục tự” (Qua thăm đền cũ Trình tuyền), ca ngợi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tài "huyền cơ tham tạo hóa" (nắm được huyền vi của tạo hóa). Ông viếng mộ Phạm Viên “tiên ông đắc đạo”, nghiên cứu kỹ về hình thế núi sông, cửa biển và các đường sá giao thông. Ông viết về phong thổ làng Cương Gián: "Tổ tiên ta ngày xưa ở tại làng này. Phía sau làng núi Hồng đồ sộ, phía trước là biển cả mênh mông. Bàu nước Hoa Viên mượt mà dải lụa uốn lượn quanh làng. Đây là một làng quê đông đúc giàu có". "Họ ta vốn gốc từ Diêm Phá, thuộc tỉnh Thanh vất vả vào đây, mến yêu cảnh vật nơi này, cần cù lương thiện vui vầy làm ăn ". Ông được giới sĩ phu đương thời rất nể trọng và chúa Trịnh Sâm mời ông ra Kinh đô để hỏi mưu kế. Ông can chúa Trịnh đừng tiếm vị vua Lê nhưng tình thế phức tạp nên ông lại trở về núi. 

Nguyễn Thiếp được Hoàng đế Quang Trung ba lần mời ra giúp sức, ông là vị quân sư tài giỏi của vua Quang Trung. Năm 1786, lúc Nguyễn Thiếp 63 tuổi, Nguyễn Huệ chiếm Thuận Hóa, tiến ra Bắc tiêu diệt Trịnh Khải và trả quyền lại cho vua Lê. Trên đường ra Bắc, Nguyễn Huệ đã tìm đến Nguyễn Thiếp để cầu hiền và mời ông ra giúp sức. Nguyễn Thiếp lấy cớ ông là thần tử nhà Lê để từ chối. Trên đường về Nam, Nguyễn Huệ một lần nữa lại đến mời ông nhưng ông cũng khéo léo từ chối để đủ thời gian đánh giá phương cách xử sự của nhà Tây Sơn đối với nhà Lê. Khi lực lượng Tây Sơn rút về Nam, con cháu họ Trịnh lại nổi lên trở lại. Vua Lê Chiêu Thống mời Nguyễn Hữu Chỉnh, người Bắc Hà nhưng đã theo phò gia đình Tây Sơn, lúc đó đang ở Nghệ An, ra Thăng Long để dẹp họ Trịnh. Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp xong con cháu họ Trịnh, lại chuyên quyền và quay qua muốn gây hấn với Tây Sơn ở trong Nam. Nguyễn Huệ liền cử Võ Văn Nhậm, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ra Bắc dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh bỏ chạy rồi bị bắt giết. Vua Lê Chiêu Thống cũng bỏ chạy luôn. Võ Văn Nhậm đưa chú của Chiêu Thống là Lê Duy Cận lên làm Giám quốc. Nguyễn Huệ đã tự cầm quân ra Thăng Long giết Võ Văn Nhậm (vì tội Nhậm đã không thận trọng để cho Lê Chiêu Thống trốn thoát, Nhậm là con rể của Nguyễn Nhạc) và giao quyền thống lĩnh lực lượng Tây Sơn ở Bắc Hà cho Ngô Văn Sở. Trong lúc Lê Chiêu Thống lẩn trốn ở Bắc Hà, thì mẹ của nhà vua đem con của nhà vua vượt ải Thủy Khẩu qua Long Châu cầu cứu với nhà Thanh vào tháng 7 năm Mậu Thân (1788). Nhà Thanh liền chụp lấy cơ hội đem quân sang xâm lược Việt Nam. Nguyễn Huệ đã đăng quang hoàng đế ngày 25 tháng 11 (22.12. 1788) và cấp tốc kéo quân ra Bắc sau hơn một tháng chuẩn bị. Tại Nghệ An, (có tài liệu nói là tại đỉnh đèo Ngang nơi Nguyễn Thiếp đã viết bài thơ cảm khái sau này) vào ngày 29 tháng 11 (âm lịch) La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã hội kiến vua Quang Trung. Trong lần gặp gỡ thứ ba này, Nguyễn Thiếp trên lập trường dân tộc đã đứng hẵn về vua Quang Trung để lo việc chống giặc. Nhà vua bàn với Nguyễn Thiếp kế hoạch hành quân. Nguyễn Thiếp nói: "Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết tình hình khó dễ thế nào, thế nên chiến thủ thế nào. Và nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp đi thì không ngoài 10 ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó." Lời bàn của Nguyễn Thiếp được vua Quang Trung rất hợp ý. Nguyễn Thiếp đã quân sư trong các kế lớn “xuất sư chính danh”, “ bổ sung quân Thanh Nghệ”,“hành binh thần tốc”, “xuất kỳ bất ý” “đánh trong dịp Tết”. Vua Quang Trung đã cấp tốc tuyển quân Thanh Nghệ trong mười ngày đến ngày mồng 10 tháng chạp (5.1.1789) thì tiếp tục hành quân ra Bắc. Ngày 20 tháng chạp (15.1.1789), nhà vua đến Tam Điệp hội quân với lực lượng Tây Sơn ở Bắc Hà do đại tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy. Vua Quang Trung cho quân nghỉ ngơi tại Tam Điệp và chuẩn bị chiến trường trong mười ngày, sau đó đã mở chiến dịch Tết Kỷ Dậu tấn công ào ạt trong sáu ngày thì đánh tan quân Thanh. 

Hoàng đế Quang Trung đã giao cho Nguyễn Thiếp và Thận Quận công chọn địa điểm và chủ trì xây dựng kinh thành Phượng Hoàng Trung Đô tại tỉnh Nghệ An để thay thế kinh đô Phú Xuân. Vị trí kinh đô đặt tại vùng núi Dũng Quyết bên dòng sông Lam nay là thành phố Vinh. Đây là đất tổ nghiệp “họ Hồ” của triều Tây Sơn để cố kết và thu phục lòng dân; vị thế chiến lược hết sức quan trọng “đóng đô ở Nghệ An là độ đường vừa cân, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ làm cho người tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về”; vị trí kinh đô hội tụ đủ "tứ linh": Long thủ (đầu rồng), Kỳ Lân (con mèo), Quy Bối (cồn rùa), Phượng Dực (cánh phượng). Nguyễn Thiếp đã gấp rút xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô trong bốn năm thì cơ bản đã hoàn thành. Hoàng đế Quang Trung đã làm việc tại đây ít nhất hai lần vào tháng 5-1791 và tháng 1-1792, nhưng sáu tháng sau, vua đột ngột qua đời nên không kịp dời đô từ Phú Xuân ra Trung Đô. Khi Nguyễn Quang Toản lên ngôi, lời trối của vua Quang Trung và kế sách của Nguyễn Thiếp đề nghị hãy gấp rút dời kinh đô ra vùng Nghệ Tĩnh để làm căn cứ địa đã không được thực thi. Nguyễn Ánh sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn đã huỷ bỏ tất cả những gì do triều Tây Sơn đã tạo dựng. Hiện nay, Phượng Hoàng Trung Đô chỉ còn lưu dấu tích dưới chân núi Dũng Quyết. Theo sách La Sơn Phu Tử thì Phượng Hoàng Trung Đô có hai lần thành là thành nội và thành ngoại. Thành ngoại xây bằng đất và đá ong, hình tứ giác, chu vi 2.820 m, bờ thành cao 3-4 m, diện tích 22 ha, bao quanh thành ngoại là con hào rộng 30 m, sâu 3 m. Thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, chu vi 1.680 m, có hai dãy hành lang nối với điện Thái Hòa, nơi vua thiết triều. 

Nguyễn Thiếp là nhà văn hoá lớn tiêu biểu cho sự độc lập văn hóa của Việt Nam. Ông đã tận lực giúp vua Quang Trung hoàn thiện chữ Nôm, biên dịch các sách chữ Hán sang chữ Nôm để phục vụ cho chính sách sử dụng chữ Nôm trong mọi sinh hoạt văn hoá Việt Nam, dùng chữ Nôm trong các văn bản, sắc dụ để thay thế chữ Hán. Ông làm Viện trưởng Viện Sùng chính đã dày công phiên dịch các bộ sách Tứ thư và Ngũ kinh. Ông là một học giả uyên thâm Hán văn và chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa sâu đậm, nhưng đã gìn giữ trọn vẹn văn hoá truyền thống của dân tộc. Tiếc rằng những tác phẩm của La Sơn phu tử đến nay không còn nữa, vì vua Quang Trung chết yểu, sau đó là triều nhà Nguyễn bị ảnh hưởng Tống Nho chỉ chú trọng chữ Hán nên những tác phẩm chữ Nôm và những văn bản triều Tây Sơn không còn được bảo tồn. Vào khoảng đầu năm 1803, lúc Nguyễn Thiếp 80 tuổi, vua Gia Long đã triệu ông vào Phú Xuân để hỏi việc nước. Trên đường về, khi qua đỉnh đèo Ngang, ông đã cảm khái đọc bài thơ Nôm: 

Nguyễn Thiếp mất năm 1804, hưởng thọ 81 tuổi. Lăng mộ Nguyễn Thiếp, hiện thuộc xã Nam Kim dưới chân dãy Thiên Nhẫn. Trước mộ ông là hồ nước Nam Kim trong xanh, phẳng lặng. Mộ ông là một trong những điểm đến nổi tiếng của quần thể di tích lịch sử-văn hoá vùng đất Lam Hồng. 

 

      XI. ĐƯỜNG ĐẶNG DUNG

1. Vị trí con đường

Từ giao công viên Lý Tự Trọng – Phan Đình Giót đến giao đường Nguyễn Phan Chánh

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Đặng Dung (Quý Sửu 1373 - Giáp Ngọ 1414) Danh tướng công thần số một đời Hậu Trần, con của Tri phủ Hóa Châu Đặng Tất; quê ở huyện Thiên Lộc (nay là Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh vào ngụ tại huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Sau khi cha của ông mất, ông cùng với Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy ra Thanh Hóa rước Trần Quí Khoách vào Nghệ An lập làm vua Trùng Quang, tiếp tục kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Trải qua nhiều trận đánh lớn ở Mô Độ, Thiên Quan, Thái Già ông từng làm cho quân Minh phải khiếp sợ. Ngoài việc cầm quân đánh giặc, ông còn là một nhà thơ, ông có bài thơ Thuật hoài lưu lại hậu thế, nói lên nỗi niềm uất hận và thương cảnh nước mất nhà tan. Đời sau, danh sĩ Lý Tử Tấn bạn đồng khoa với Nguyễn Trãi phê bình bài Thuật Hoài của Đặng Dung đã viết: "Phải hào kiệt chi sĩ bất năng" (nghĩa là không phải người hào kiệt không thể làm được). Lúc sa cơ, ông bị giặc Minh bắt cùng với Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy và vua Trần Quí Khoách, ông vẫn giữ lòng trung bất khuất với lý tưởng.

 

      XII. ĐƯỜNG NAM NGẠN: Từ Cầu Vồng – Nguyễn Phan Chánh đến bao quanh sông Cụt

 

      XIII. ĐƯỜNG NGUYỄN HỮU THÁI: Từ đường Hải Thượng Lãn Ông đến đường Nguyễn Tất Thành

 

      XIV. ĐƯỜNG NGUYỄN BIÊN

1. Vị trí con đường

Từ đường 26/3 (ngõ 1) đến cắt đường vào  lò giết mổ tập trung

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Biên (? – 1425), người làng Phù Lưu thượng (nay là Hồng Lộc, Lộc Hà). Lập cư tại Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên. Tại đây ông tổ chức lực lượng xây dựng căn cứ để chống quân Minh. Khi nghĩa quân Lê Lợi tiến vào Nghệ An, ông gia nhập và trở thành vị tướng tài của nghĩa quân Lam Sơn.

 

 

 

Văn bản mới ban hành
Bản đồ phường Tân Giang
 Liên kết website
Thống kê: 17.415
Online: 41